Gan là cơ quan nội tạng quan trọng và đảm nhiệm rất nhiều các chức năng trong cơ thể. Ngoài nhiệm vụ thanh lọc và giải độc tố gan còn thực hiện rất nhiều các vai trò khác nhau như giúp tổng hợp protein, kiểm soát việc sản xuất và bài tiết cholesterol, duy trì cân bằng nội tiết tố, giúp tạo ra năng lượng một cách nhanh chóng khi cần thiết.

Tuy nhiên do cuộc sống quá bận rộn nhiều áp lực mà chúng ta không còn thời giờ để chăm sóc tốt cho lá gan của mình. Rối loạn chức năng tuần hoàn của gan là một trong các rối loạn chức năng thường gặp ở gan.

Máu tới gan do hai nguồn cung cấp: động mạch gan và tĩnh mạch cửa (gồm tĩnh mạch mạc treo tràng trên, tĩnh mạch lách và tĩnh mạch mạc treo tràng dưới). Máu động mạch gan và tĩnh mạch cửa trộn lẫn tại các xoang máu ở kẽ tế bào khi dồn về tĩnh mạch gan và tĩnh mạch gan trên.

Rối loạn tuần hoàn khi gan bị bệnh

  • Giảm lưu lượng tuần hoàn tại gan: nguyên nhân có thể là do giảm lưu lượng tuần hoàn chung như sốc, trụy mạch,…hay do giảm lưu lượng tuần hoàn cục bộ như co thắt động mạch gan, co thắt tĩnh mạch cửa.Tuy nhiên , hậu quả của thiếu máu đến gan có thể ảnh hưởng tới tuần hoàn chung, vì khi gan thiếu oxy sẽ sản xuất chất VDM (Vaso Dilatator Material) , nó có tác dụng giãn mạch làm hạ huyết áp.
  • Ứ máu ở gan: tất cả các nguyên nhân cản trở dòng máu về tim phải, đều làm cho ứ máu ở gan như suy tim phải, tâm phế mạn, do chèn ép,… đều làm rối loạn chức năng gan. Hậu quả tùy thuộc vào thời gian ứ máu, giai đoạn đầu gan có thể to nhưng đáp ứng với nghỉ ngơi, điều trị nên gan nhỏ lại gọi là gan đàn xếp. Nhưng khi ứ máu lâu ngày, gan sẽ bị thiếu oxy kéo dài dẫn tới hoại tử tế bào nhu mô quanh tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy, tổ chức xơ phát triển. Dần dần, gan sẽ bị thoái hóa mỡ trở nên to, rắn, bờ sắc và thường không đau.

Hệ thống mạch máu của gan (Ảnh minh họa)

  • Tăng áp lực tĩnh mạch cửa: gan là cơ quan dự trữ máu, điều hòa hoạt động của tim làm giảm áp lực tĩnh mạch chủ dưới mỗi khi áp lực đó lên cao. Nhưng mao mạch gan lại gây một trở lực lớn cho tuần hoàn gan. Bình thường áp lực tĩnh mạch cửa khoảng 6-10cm nước, nhưng trong trường hợp bệnh lý có thể tăng tới 25-30cm nước. Nguyên nhân có thể là do huyết áp tĩnh mạch toàn thân tăng hoặc do hệ tĩnh mạch cửa bị tắc ở một đoạn nào đó trước xoang hay sau xoang như trong xơ gan hay u chèn ép,… Hậu quả là tổ chức xơ gan phát triển do trung tâm tiểu thùy thiếu dinh dưỡng và tuần hoàn bên ngoài gan sẽ phát triển:
  • Tăng áp lực vòng nối ở thực quản giữa tĩnh mạch vành vị của hệ thống cửa với tĩnh mạch đơn của hệ thống chủ đổ về tĩnh mạch chủ trên. Gây căng phồng tĩnh mạch thực quản và biểu hiện lâm sàng khi vỡ và nôn ra máu đỏ tươi.
  • Tăng áp lực vòng nối ở trực tràng giữa tĩnh mạch trĩ trên của hệ thống cửa với tĩnh mạch trĩ giữa và dưới của hệ chủ đổ về tĩnh mạch chủ dưới. Gây căng phồng tĩnh mạch trĩ và khi vỡ biểu hiện tiêu ra máu đỏ tươi.
  • Tăng áp lực vòng nối ở quanh rốn giữa tĩnh mạch rốn và cạnh rốn của hệ thống cửa với tĩnh mạch thượng vị và hạ vị của tĩnh mạch chủ dưới. Biểu hiện là những chum tĩnh mạch ngoằn nghèo nổi dưới da bụng gọi là tuần hoàn bàng hệ.
  • Dịch báng: là kết quả của sự phối hợp nhiều rối loạn:
  • Do tăng áp lực thủy tĩnh của hệ thống tĩnh mạch cửa.
  • Do tăng tính thành mạch vì tình trạng thiếu oxy và nhiễm độc mạn tính ở bệnh nhân suy gan.
  • Do giảm áp lực keo huyết tương và gan không phân hủy một số hormone giữ muối nước (ADH, aldosterone).
  • Có hiện tượng cường aldosterone thứ phát.
  • Dịch báng trong xơ gan là dịch báng toàn thể và có thể gây chèn ép các cơ quan trong ổ bụng. Nước báng là dịch thấm, phản ứng rivalta (-) nhưng do đậm độ protein trong dịch có thể lên tới 1000mg/l, vì vậy chọc dịch báng liên tục sẽ không có lợi cho bệnh nhân vì gây thiếu protein làm cho người bệnh sụt cân nhanh. Chỉ chọc khi nào nước bang quá nhiều ảnh hưởng đến các tạng trong ổ bụng và khi chọc phải rút dịch từ từ, không qua 2 lít dịch trong một lần rút.