Gan là tạng lớn nhất trong cơ thể người, thực hiện hàng trăm chức năng khác nhau trong đó có tiết ra cả mật. Mật là chất được tiết ra từ trong gan, có tác dụng thúc đẩy sự tiêu hóa những thức ăn thuộc nhóm chất béo.

  1. Khái quát về mật và túi mật

Mật

Trong quá trình tiêu hóa chất béo, gan tiết ra một chất giúp thúc đẩy quá trình đó gọi là mật (hay dịch mật). Tế bào gan liên tục bài tiết ra dịch mật. Dịch mật có nhiều chất nhưng có hai thành phần quan trọng:

  • Muối mật:

Muối mật là chất giúp cho chất mỡ khi ăn vào có thể tan được trong nước. Điều này sẽ giúp cho quá trình tiêu hoá và hấp thu chất mỡ được tốt hơn. Nếu không có muối mật, có thể 40% chất béo sẽ không được hấp thụ. Ngoài vai trò giúp hấp thu chất béo, muối mật còn giúp hấp thu những vitamin tan trong mỡ như vitamin A, D, E, K. Khi mật bị tắc, không xuống được ruột, chất mỡ trong ruột không tiêu hoá được có thể gây tiêu chảy. Thiếu các vitamin tan trong mỡ. Ví dụ như vitamin K, sẽ làm cho máu khó đông lại và dễ gây ra chảy máu kéo dài. Vì vitamin K giúp cho gan tạo ra những chất làm đông máu. Một số bệnh nhân bị bệnh gan hay bị ngứa là do muối mật đọng lại ở dưới da.

  • Sắc tố mật:

Gan không những bài tiết các chất được sản xuất từ gan mà còn bài tiết những chất được tạo ra từ nơi khác. Một trong những chất này là bilirulin hay còn gọi là sắc tố mật. Bilirulin là một sản phẩm biến đổi từ hemoglobin. Hồng cầu trong máu sống đến khoảng 120 ngày thì già đi rồi chết, màng của hồng cầu sẽ bị vỡ ra.

Chất hemoglobin trong hồng cầu. Được phóng thích ra và biến đổi qua nhiều giai đoạn và cuối cùng thành một chất có màu vàng được gọi là sắc tố mật hay bilirubin. Bilirubin được tạo từ hemoglobin. Là dạng không tan trong nước nhưng tan được trong mỡ và được gọi là bilirubin gián tiếp. Bilirubin gián tiếp khi đến gan sẽ kết hợp với acid glucuronic để trở thành bilirubin trực tiếp có thể hoà tan được trong nước. Bilirubin trực tiếp được bài tiết qua đường mật để đi xuống ruột non. Một phần theo phân ra ngoài làm cho phân có màu vàng. Một phần khác sẽ từ ruột non ngấm trở lại vào máu, thải qua nước tiểu nên cũng làm cho nước tiểu có màu vàng.

Vì vậy, khi gan bị hư hại do viêm gan, xơ gan hoặc khi đường mật bị tắt nghẽn. Chất mật không xuống được ruột, ứ lại trong gan và tràn vào trong máu gây ra vàng da vàng mắt. Do bilirubin trực tiếp cũng được tăng thải qua nước tiểu nên làm cho nước tiểu sậm màu như màu nước trà đậm. Khi đó, hemoglobin được phóng thích ra nhiều hơn, vượt quá khả năng đào thải của gan. Tuy vậy, tình trạng vàng da này không phải do bệnh gan.

Túi mật

Túi mật là nơi dự trữ mật do gan bài tiết ra. Khi ăn thức ăn, túi mật có chức năng co bóp để đẩy dịch mật qua đường mật vào ruột non giúp tiêu hóa thức ăn. Những lắng đọng bất thường của các thành phần chính trong dịch mật sẽ hình thành nên bùn mật, sỏi mật. Sỏi mật thường gây ra đau bụng, viêm túi mật và viêm tụy.

Túi mật là một túi nhỏ hình quả lê, màu xanh, nằm ở mặt dưới của thùy gan phải, dài khoảng từ 6 – 8cm và rộng nhất là 3cm khi căng đầy. Đây là một bộ phận của đường dẫn mật ngoài gan, gồm có 3 phần: đáy, thân và cổ. Ống dẫn mật từ túi mật tới ống mật chủ dài 3 – 4cm, đoạn đầu rộng 4 – 5mm, đoạn cuối hẹp 2,5mm. Trong lòng ở phần trên của ống túi mật có những van gọi là van Heister làm cho ống túi mật không bị gấp lại và làm cho mật lưu thông dễ dàng.

Túi mật

  1. Chức năng của gan thế nào trong việc tiết ra mật?

Mật có tác dụng thúc đẩy sự tiêu hóa dịch tụy và ruột, kích thích hoạt động của đường ruột, tăng nhanh quá trình tiêu hóa.

Ngoài ra, mật còn có tác dụng khống chế sự phát triển của vi khuẩn làm thối rửa trong ruột.

Mật được tiết vào đường tiêu hóa

Trong mật có chứa sắc tố mật và muối mật(sắc tố mật tức là bilirubin và biliverdin; muối mật tức natri glycocholat và natri tauroglycocholat); đồng thời còn có cholesterol, chất noãn hoàn và protein nhầy.

Cholesterol quá nhiều (làm trở ngại sự chuyển hóa), sắc tố mật nhiều, đường ruột phát viêm, muối calci lắng lại đều có thể hình thành sỏi mật, làm nghẽn đường mật gây vàng da. Khi gan có bệnh, sự chuyển hóa sắc tố mật của người bệnh bị trở ngại thường dễ xuất hiện vàng da; do đó, lúc này nên ăn ít chất béo.