Viêm gan C là một trong những căn bệnh về gan mãn tính rất nguy hiểm. Bệnh được lan truyền rất rộng rãi ước tính có tới 170 triệu người trên thế giới đang mắc bệnh. Vì vậy, cần phải có kiến thức về bệnh để phòng ngừa căn bệnh nguy hiểm này.

  1. Bệnh viêm gan C được chẩn đoán như thế nào?

    a,Xét nghiệm máu cho viêm gan C

Có nhiều xét nghiệm máu để chẩn đoán nhiễm viêm gan C. Máu có thể được kiểm tra để tìm kháng thể viêm gan siêu vi C. Sau khi nhiễm viêm gan C lần đầu tiên, phải mất 6 tháng để phát hiện kháng thể, vì vậy việc kiểm tra các kháng thể có thể sẽ bỏ lỡ một số bệnh nhân mới nhiễm bệnh. Việc có các kháng thể không phải là dấu hiệu tuyệt đối cho hoạt tính, nhân virut viêm gan C, nhưng nếu xét nghiệm kháng thể dương tính (có kháng thể), thì xác suất của nhiễm trùng hoạt tính lớn hơn 99%.

<center>Xét nghiệm máu chẩn đoán viêm gan C (Ảnh minh họa)<center>

  • Đo tải lượng

Có nhiều thử nghiệm để đo lượng virus viêm gan C trong máu người (tải lượng virus). RNA của virut viêm gan C có thể được xác định bằng một loại xét nghiệm gọi là phản ứng PCR ( polymerase chain reaction ) phát hiện virus lưu thông trong máu sớm nhất là 2-3 tuần sau khi nhiễm trùng, do đó nó có thể được sử dụng để phát hiện nhiễm trùng cấp tính nghi ngờ viêm gan C nhiễm trùng sớm.

  • Xét nghiệm chức năng gan

Xét nghiệm chức năng gan mà bạn thường được làm là: AST ( SGOT) và ALT (SGPT) chi tiết thì có nhiều, nhưng để dễ nhớ và tiện thì các bạn có thể nhớ 2 giá trị này thường nhỏ hơn 40 đơn vị (UI) (lưu ý trên mỗi thông số xét nghiệm ở mỗi nơi có những giá trị ngưỡng khác nhau).

Khi giá trị này tăng có giá trị thường thì phải gấp 2-3 lần thì có thể bạn đã bị viêm gan. Và đối với những bệnh nhân mắc bệnh viêm gan C mà chức năng gan tăng cao thì người bệnh cần làm thêm các xét nghiệm khác để đánh giá được chuẩn xác hơn.

  • Kiểm tra anti – HCV

Xét nghiệm dùng để tầm soát tình trạng nhiễm bệnh viêm gan siêu vi C là anti – HCV. Đây là một loại kháng thể do cơ thể tạo ra để phản ứng lại với một vài thành phần cấu tạo của siêu vi.

Khi anti-HCV dương tính thì không có nghĩa là cơ thể đã tạo được yếu tố bảo vệ chống lại bệnh này mà chỉ chứng tỏ rằng bệnh nhân đã hoặc đang bị nhiễm siêu vi C. Nói một cách khác, bệnh nhân không được “miễn dịch” với bệnh khi có anti-HCV dương tính.

Cần lưu ý rằng trong một số trường hợp, lúc đầu anti-HCV âm tính nhưng sau 1-2 tháng thử lại thì thấy dương tính. Đó là do anti-HCV thường xuất hiện muộn sau khi bị nhiễm siêu vi C.

  • Kiểm tra genotyp

Kết quả của xét nghiệm này đóng vai trò rất quan trọng vào việc điều trị viêm gan C. Tùy vào genotype người bệnh mắc mà có các phác đồ điều trị phù hợp, mỗi genotype khác nhau sẽ có các điều trị khác nhau.

Xác định kiểu gen virus được sử dụng để xác định các loại, hoặc kiểu gen, hiện tại virus HCV có 6 loại chính, phổ biến nhất (genotype 1) là ít có khả năng đáp ứng với điều trị so với genotype 2 hoặc 3 và thường đòi hỏi điều trị lâu hơn.

b,Sinh thiết gan và các xét nghiệm không xâm lấn cho viêm gan C

Bước tiếp theo là xác định mức độ sẹo của khối u gây ra. Sinh thiết gan cho phép kiểm tra một mẫu nhỏ mô gan dưới kính hiển vi, tuy nhiên, sinh thiết gan là một xét nghiệm xâm lấn, và có nguy cơ chảy máu. Nó cũng có thể bỏ qua những vùng bất thường trong bệnh sớm.

Các xét nghiệm không xâm lấn đã thay thế phần lớn sinh thiết gan ngoại trừ những trường hợp đặc biệt. Độ cứng gan cho thấy có thể có sẹo lồi hoặc xơ gan. Độ co giãn thoáng qua có thể được sử dụng để đo độ cứng bằng siêu âm hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI).

Đánh giá trước khi điều trị viêm gan C cũng nên bao gồm:

  • Thử nghiệm HIV
  • Thử nghiệm đối với các kháng thể viêm gan B và viêm gan A và vaccin nếu không có kháng thể
  • Đề nghị kiêng cữ rượu
  • Tư vấn về các biện pháp ngăn ngừa sự lây lan của viêm gan C và HIV
  • Chủng ngừa nhiễm khuẩn phế cầu nếu xơ gan có mặt
  1. Điều trị viêm gan C

<center>Thuốc điều trị viêm gan C (Ảnh minh họa)</center>

Đã có thuốc điều trị khỏi viêm gan siêu vi C mạn từ lâu nhưng tỷ lệ khỏi bệnh còn thấp và nhiều tác dụng phụ. Xu hướng và phương pháp điều trị mới nhất hiện nay là dùng các loại thuốc uống (DAAs) nâng tỷ lệ điều trị thành công viêm gan siêu vi C lên 99%.

Tất cả các bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn đều được điều trị ngoại trú tại nhà  trong khoảng 3 – 12 tháng. Bệnh nhân vẫn sống, sinh hoạt và làm việc bình thường. Bệnh nhân chỉ tới bệnh viện tái khám và làm các xét nghiệm cần thiết.

Bệnh nhân muốn hoàn tất liệu trình điều trị viêm gan siêu vi C mạn (3 – 12 tháng) thì phải được tư vấn và điều trị bởi một bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm.

Nguồn : Tổng hợp