Trong Tây y, bệnh gan chỉ các loại bệnh sinh ra từ những thay đổi bệnh lý về gan ở phương diện giải phẫu, cần phân biệt với sự rộng rãi của các bệnh thuộc hệ thống gan trong Đông y. Trong những biến đổi bệnh lý có tính mô mềm phát sinh ở gan, bao gồm viêm gan do virus ở các loại hình, các loại xơ gan do những loại bệnh gan ở thời kỳ sau chuyển biến thành, kèm theo bụng ứ nước và hôn mê do gan…

Nhưng đem biểu hiện lâm sàng của những bệnh này, liêm hệ với lý luận và thực tiễn có liên quan với bệnh gan thì có những biểu hiện như đau hông, vàng d, chứng tích tụ, cổ trướng,…Vì vậy, nắm vững đặc điểm của những bệnh này là điều có ý nghĩa quan trọng đối với việc điều trị một cách hợp lý trên lâm sàng.

  1. Đau hông

Trên lâm sàng, đau hông do bệnh gan dẫn đến thường là đau ở một hoặc hai bên hông, có thể chỉ xuất hiện một mình, cũng có thể kèm theo vàng da, chứng tích tụ và cổ trướng,… Đau hông phần lớn là do khí ở hông uất kết. Nhưng đau hông được nói đến ở đây là thực chứng do gan mật uất nhiệt gây mất khả năng sơ tiết, đau hông do đau gan và sưng gan. Đau hông lâu ngày dần thấy máu ự đọng trở ngại vì đau lâu lạm vào mạch máu dẫn đến.

Đau hông

Trong biện chứng luận trị, dùng cách đều tiết khí, thanh gan, giải độc để điều trị. Hư chứng thì dùng cách nhu gan dưỡng âm trị. Nếu đau hông kèm theo vàng da, chứng tích tụ, cổ trướng,… thì phải phân biệt chính phụ, nặng nhẹ hay nhanh chậm mà xử lí thích hợp.

  1. Vàng da

Biểu hiện chủ yếu là ở mắt, cơ thể và nước tiểu vàng…, chỉ viêm gan cấp tính loại hình vàng da. Bệnh này phát triển nhanh, ngoài tính lây lan, còn có thể sốt, tinh thần hôn mê, nói nhảm, chảy máu cam đại tiện ra máu,… Triệu chứng tà dịch nhiệt độc nhập vào máu là chỉ hoại tử gan cấp tính và bán cấp.

Vàng da

Phân tích biện chứng đối với vàng da thông qua thuộc tính bệnh lý, có thể chia ra vàng âm và vàng dương. Vàng nhanh chóng là một biến chứng nguy hiểm của vàng dương. Vàng dương phần lớn là do thấp nhiệt, quá trình bệnh khá ngắn, màu vàng tươi rõ, phải dùng cách nhanh nhiệt lợi thấp để điều trị. Vàng âm thuộc hàn thấp nội lưu, quá trình bệnh khá dài, màu sắc đậm, phải ôn trung hóa thấp để điều trị. Nhưng ở thời kỳ cuối nếu bệnh phát là vàng cấp thì phải thanh nhiệt, làm mát máu và giải độc để điều trị. Khi suy yếu ở thời kỳ cuối phải dùng cách hồi dương cứu nghịch cố thoát để điều trị. Lúc này thường khó cứu được.

Trong điều trị, thông thường vàng da dương thiêu biến khá dễ mà vàng âm thì dai dẳng khó hết. Tóm lại diễn biến bệnh về vàng da khá khó, do vậy trong điều trị cần phải hết sức xem trọng và cố gắng điều trị.

  1. Chứng tích tụ

Trong bụng thấy hình thành cục cứng, cố định không di chuyển gọi là chứng tích tụ. Đây là chỉ gan tỳ phù to. Gần giống với nó là chứng nổi cục trong bụng, tuy thuộc hữu hình nhưng đẩy nó có thể di chuyển hoặc tụ tập, phân tán vô thường, là chỉ khối u ở bụng dưới của phụ nữ. Đẩy nó có thể di chuyển, đau không xác định được chỗ.

Cơ chế bệnh lý của chứng tích tụ thuộc gốc hư ngọn thực, vô cùng phức tạp. Trong điều trị biện chứng phải căn cứ vào từng giai đoạn của bệnh. Khối u cứng và các chứng phức tạp kèm theo nên phải phân rõ chính và phụ, từ đó chia chứng tích tụ ra thành ba giai đoạn:

  • Giai đoạn đầu: cục mềm không cứng, bụng đau ngầm hoặc không đau; nguyên nhân do khí trệ ứ huyết, chủ yếu là tà thực, cần hành khí hoạt huyết, hóa ứ tán kết để điều trị.
  • Giai đoạn giữa: cục lớn rõ dần, cứng và đau bụng, chủ yếu là do tà thực chính hư, cần phải phù chính hóa ứ, kèm theo cả công và bổ để điều trị.
  • Giai đoạn cuối: cục to cứng và toàn thân suy yếu;chủ yếu là do chính hư, cần dùng cách phù chính tiêu ứ để điều trị.

Sau đó, đối với trường hợp tỳ quá lớn, chức năng tỳ tăng nhanh cần phải nghĩ đến việc phẫu thuật cắt bỏ tỳ. Chứng tích tụ là do vàng da chuyển hóa mà thành, nếu trên cơ sở chứng tích tụ xuất hiện vàng do thì cho thấy bệnh khá nặng. Nếu chứng tích tụ chuyển sang cổ trướng, tức xơ gan tích nước ở bụng thì bẹnh càng nghiêm trọng hơn.

  1. Cổ trướng

Thường gặp là xơ gan bụng tích nước ở các loại hình, nguyên nhân do tỳ vận thất thường. Trong mười chín cơ chế gây bệnh thì “thấp, thũng, mạn đều thuộc tỳ”. Bệnh này mới phát đầu tiên tổn thương gan tỳ, lâu ngày từ tỳ sang thận, thuộc vào thực chứng. Cần phải lưu thông khí, trừ ứ huyết, giải thủy thấp,…

Cổ trướng

Dùng cách hành khí, hoạt huyết, thông lợi thủy thấp để điều trị tùy theo từng loại. Nếu thuộc hư chứng, cần phân biệt dương hư hay âm hư, dùng cách tư dưỡng gan thận hoặc ôn bổ tỳ thận để điều trị tùy theo bệnh. Trên thực tế, cổ trướng thuộc chứng hư thực lẫn lộn, bản hư biểu thực. Về điều trị cần công lẫn bổ, điều trị cả trong lẫn ngoài.