Tùy loại virus gây viêm gan, bệnh có thể có những tiến triển và biến chứng khác nhau. Các loại virus có thể gây nên biến chứng viêm đường mật, viêm gan ác tính,… Viêm gan do HEV ở phụ nữ có thai dễ dẫn đến viêm gan ác tính và tử vong cao. Viêm gan cấp do HBV, HCV và bội nhiễm HDV ở người mang HBsAg mạn tính dễ dẫn đến viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư tế bào gan.

  1. Chẩn đoán bệnh

Chẩn đoán huyết thanh học

  • Phương pháp định lượng kháng thể: có các phương pháp sau để xác định kháng thể kháng virus:
  • Phương pháp xác định trực tiếp sự tác động qua lại giữa kháng nguyên và kháng thể.
  • Phương pháp phụ thuộc vào khả năng của kháng thể tác động qua lại với kháng nguyên, thực hiện với một vài chức năng không liên quan đến virus. Phương pháp xác định trực tiếp khả năng kháng thể cản trở một vài chức năng đặc hiệu của virus.
  • Đáp ứng kháng thể đối với nhiễm virus: trong hầu hết các nhiễm virus tiên phát, kháng thể tăng lên một cách có ý nghĩa trong huyết thanh. Do đó, xác định mức độ kháng thể trong cặp mẫu huyết thanh thu thập ở giai đoạn sớm trong quá trình bệnh (cấp) và muộn hoặc sau khi đã khỏi bệnh (lui bệnh) có thể được sử dụng để chẩn đoán. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ không có đáp ứng kháng thể sau nhiễm virus.
  • Định lượng kháng thể IgM và IgA: kháng thể IgM thường được tạo ra sớm sau nhiễm virus, thường tồn tại khoảng từ 1 đến 3 tháng có khi lâu hơn. Sự phát hiện được IgM trong nhiều trường hợp có nghĩa là có sự nhân lên hoặc hiện diện của virus. Do vậy, định lượng IgM là một công cụ hữu hiệu trong chẩn đoán virus cho kết quả chẩn đoán sớm trong quá trình nhiễm bệnh, rất hữu ích để quản lý bệnh nhân. Kháng thể IgA cũng được tạo ra sớm, nhưng nó thường tồn tại lâu hơn IgM.

 

  • Chẩn đoán bệnh (Ảnh minh họa)

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt (Ảnh minh họa)

Tùy theo từng thời kì của bệnh viêm gan virus mà chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác như:

– Thời kì khởi phát có sốt do vậy cần phải chẩn đoán phân biệt với cúm hoặc nhiễm virus đường hô hấp cấp. Ở những bệnh nhân có đi tiêu lỏng, đau vùng thượng vị cần chẩn đoán phân biệt với nhiễm khuẩn, nhiễm độc ăn uống hoặc viêm dạ dày cấp….

– Giai đoạn vàng da: cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh có vàng da khác như vàng da do huyết tán trong lòng mạch, vàng da do nhiễm độc hóa chất hoặc do thuốc, bệnh Leptospirosis…

  1. Điều trị bệnh

Nguyên tắc điều trị chung cho bệnh nhân mắc bệnh viêm gan do virus là:

  • Chế độ nghỉ ngơi, nằm nghỉ tại giường trong thời kỳ khởi phát và toàn phát, sau đó hoạt động nhẹ nhàng. Ở tư thế nằm, lượng máu qua gan sẽ tăng lên 25-30% so với tư thế đứng, giúp cho gan được tưới máu nhiều hơn.
  • Khi ra viện bệnh nhân được miễn lao động nặng trong vòng 6-12 tháng tùy theo mức độ bệnh.
  • Chế độ ăn giàu đạm, đường, vitamin, giảm mỡ động vật đặc biệt là các món xào, rán. Tăng cường ăn hoa quả tươi, sữa chua.
  • Kiêng rượu, bia và hạn chế sử dụng các thuốc, hóa chất gây độc cho gan.
  • Sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng khi cần: lợi mật, truyền dịch, lợi tiểu khi có vàng da đậm; vitamin K khi có hội chứng xuất huyết; các vitamin nhóm B.
  1. Phòng bệnh

Phòng bệnh viêm gan do virus (Ảnh minh họa)

  • Những biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu:

Đối với các virus viêm gan lây qua đường tiêu hóa (HAV và HEV) cần phải giữ vệ sinh thực phẩm và nước uống. Quản lí và khử trùng phân của bệnh nhân để tránh lây lan.

Đối với các virus viêm gan lây qua đường tiêm truyền (HBV, HCV và HDV) cần phải dùng các dụng cụ tiêm truyền một lần, đảm bảo khử trùng tốt các dụng cụ tiêm truyền, phẩu thuật. Sử dụng máu và các chế phẩm của máu cần được kiểm tra chặt chẽ để loại trừ các virus viêm gan. Virus viêm gan B có thể lây qua đường sinh dục do vậy trong quan hệ tình dục cũng phải có dụng cụ bảo vệ như đối với HIV/AIDS.

  • Phòng bệnh đặc hiệu:

Đối với viêm gan A

Phòng bệnh khẩn cấp bằng Gammaglobulin miễn dịch, hiệu quả miễn dịch chỉ được 4-6 tháng. Vaccine bất hoạt bằng Formalin (Havrix) cho hiệu quả dự phòng nhưng chưa được sử dụng rộng rãi. Gần đây Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã sản xuất thành công vaccine phòng bệnh viêm gan A.

Đối với viêm gan B

Vaccine viêm gan B đã được sử dụng khá rộng rãi và đã được nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng ở nước ta.

Hiện nay có 3 loại vaccin viêm gan B: vaccine viêm gan B chế tạo từ huyết tương người bị nhiễm virus (hiện nay vaccine này tuy rẻ tiền nhưng ít sử dụng vì độ an toàn không cao); vaccine viêm gan B tái tổ hợp AND và vaccine viêm gan Btoongr hợp chuỗi polypeptide. Vaccin này được chỉ định cho trẻ em và những người có nhuy cơ lây nhiễm.

Đối với viêm gan do các loại virus khác đang nghiên cứu sản xuất vaccine phòng bệnh.

Nguồn: Tổng hợp