Virus viêm gan A là một loại virus được phát hiện từ rất sớm, gây nên bệnh viêm gan A, nặng có thể dẫn tới xơ gan và ung thư gan. Điều nguy hiểm hơn là virus viêm gan A rất dễ lây lan trong cộng đồng.

  1. Viêm gan A là gì?

Viêm gan A (Hepatitis A) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính tại gan, gây ra bởi virus viêm gan A (hepatitis A virus). Bệnh thường lây qua đường tiêu hóa, từ phân người bệnh tới người lành, chẳng hạn qua thức ăn nhiễm bẩn.

Bệnh viêm gan A thường không có giai đoạn mãn tính và không gây tổn thương vĩnh viễn đối với gan. Hệ thống miễn dịch của bệnh nhân tạo các kháng thể chống lại virus viêm gan A, kháng thể này thực hiện miễn dịch đối với các lần nhiễm trong tương lai. Có loại vắc-xin phòng viêm gan A trong tối thiểu 10 năm.

<center> Virus viêm gan A (Ảnh minh họa)</center>

  1. Đối tượng nhiễm

Bất cứ ai cũng có thể bị viêm gan A, nhưng những người có nhiều khả năng là những người:

  • đi du lịch đến các nước đang phát triển
  • sống chung với những người hiện đang bị nhiễm viêm gan loại A
  • sử dụng ma túy bất hợp pháp
  • có quan hệ tình dục không an toàn với người bị bệnh

Ngoài ra, những người nam có quan hệ tình dục đồng giới thường có nguy cơ cao măc phải viêm gan siêu vi loại A.

  1. Cách thức lây nhiễm

Bạn có thể bị viêm gan loại A thông qua tiếp xúc với phân của người bị nhiễm bệnh hoặc do các trường hợp sau:

  • uống nước không được xử lý hoặc ăn thức ăn được rửa trong nước chưa xử lí
  • ngón tay vô tình tiếp xúc với nguồn phân của người bệnh sau đó vô ý đưa lên miệng
  • có tiếp xúc gần gũi với người bệnh, chẳng hạn như quan hệ tình dục hoặc chăm sóc người bị bệnh

Bạn không thể bị viêm gan A nếu:

  • ở gần lúc người bệnh ho hoặc hắc hơi
  • ngồi bên cạnh một người bị bệnh
  • ôm một người bị bệnh

Em bé không thể bị viêm gan A từ sữa mẹ.

  1. Triệu chứng của viêm gan A

Hầu hết mọi người thường không có bất kỳ triệu chứng nào khi mắc viêm gan A. Nếu các triệu chứng của viêm gan A xảy ra thì chúng bao gồm:

  • cảm thấy mệt mỏi
  • đau nhức cơ bắp
  • đau bụng
  • sốt
  • ăn mất ngon
  • đau bụng
  • tiêu chảy
  • nước tiểu màu vàng đậm
  • phân màu sáng
  • mắt và da màu vàng

Các triệu chứng của bệnh viêm gan A có thể xảy ra từ 2 đến 7 tuần sau khi tiếp xúc với virus. Trẻ em dưới 6 tuổi có thể không có triệu chứng. Trẻ lớn hơn và người lớn thường có triệu chứng nhẹ. Gặp bác sĩ ngay nếu bạn hoặc một đứa trẻ mà bạn chăm sóc có các triệu chứng viêm gan A.

  1. Chẩn đoán viêm gan A

<center>Chẩn đoán viêm gan A (Ảnh minh họa)>/center>

Chẩn đoán nhiễm hav dựa trên kết quả đo kháng thể đặc hiệu trong máu bệnh nhân Globulin miễn dịch M (IgM) đặc hiệu cho HAV được tạo ra ở giai đoạn đầu lây nhiễm và tăng cao trong máu sau 4-6 tuần, sau đó giảm xuống và không còn phát hiện thấy sau 3-6 tháng. Ở giai đoạn này men gan trở lại bình thường trong phần lớn trường hợp.

Kháng thể IgM đặc hiệu của HAV sẽ được thay thế bởi IgG có vai trò bảo vệ lâu dài ngăn ngừa sự tái nhiễm HAV. Hai xét nghiệm máu tìm kháng thể để chuẩn đoán nhiễm HAV là IgM (Anti HAV-IgM: dương tính trong huyết thanh) và kháng thể đặc hiệu toàn phần kháng (Anti HAV). Nếu kết quả xét nghiệm chỉ dương tính với anti-HAV thì không thể phân biệt được lây nhiễm mới mắc phải hay đã từng mắc trước đó; nếu Anti HAV-IgM dương tính thì có thể xác định được bệnh nhân đang bị nhiễm cấp tính. Anti HAV có thể dùng để xác định tình trạng miễn dịch sau khi tiêm vaccine.

  1. Cách điều trị viêm gan A

Hiện nay, chưa có cách điều trị chuyên biệt khi nhiễm HAV và các thuốc kháng virus chỉ có hiệu quả giới hạn. Bệnh nhân chỉ cần thực hiện các lời khuyên sau:

– Bệnh thường nhẹ, chỉ cần nâng đỡ thể trạng, nghỉ ngơi, tránh những thức uống có cồn có thể làm tổn hại cho gan.

–  Khẩu phần dinh dưỡng nhiều đạm.

–  Có thể dùng sinh tố, thuốc chống ói nếu cần.

Lưu ý: Bệnh nhân chỉ nhập viện nếu bị mất nước quá nhiều do nôn ói và chán ăn.

  1. Phòng ngừa

  • Bệnh lây qua ăn uống nên vấn đề vệ sinh thực phẩm, vệ sinh cá nhân rất quan trọng
  • Hiện nay đã có vaccin ngừa viêm gan A rất hiệu quả.
  • Đối với những vùng có nguy cơ cao như khu du lịch nước ngoài, các nước Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ la Tinh, những nơi có trẻ nhỏ mắc với số lượng trung bình, cần phải tiêm vaccin để phòng. Vaccin cũng có thể được dùng sau phơi nhiễm nếu được tiến hành nhanh chóng.

Nguồn: Tổng hợp